BẤT ĐỘNG

NÓI đến Pháp BẤT – ĐỘNG duy chỉ Bậc Sở – Đắc tận cùng rốt ráo THẬT BIẾT – CHÂN – CHÁNH nó là như vậy, như thế hoặc như kia. Bậc ấy khi dùng đến các Pháp vẫn tùy lúc hay tùy hồi quyết định không còn nghi ngờ.

Pháp Bất- Động là một Pháp vượt tầm lý – luận hay ngôn – thuyết suông để giảng – giải ra nó mà đặng. Vì sao? Vì nó SẲN- CÓ nơi từng lớp, từng Bậc, từ lớn nhỏ, rộng hẹp, thanh-thô, tế -nhị, trùm khắp tuyệt – mỹ, nó không có sự Tăng – Giảm hoặc Dư hay Thiếu mảy – may nào cả.

Nói đến thứ lớp của nó thời cứ mỗi một lớp như vậy có hằng hà sa số Bậc, mà mỗi một Bậc thì vô – lượng vô -biên lớp. CŨNG – NHƯ: Nhìn trong một thành phố hay một xóm làng, mỗi một khoảng đất thì có một cái nhà, mà mỗi một cái nhà có một hoàn – cảnh. Nếu trong nhà ấy có 5 người, hay 10 người, thì mỗi một người đều sự Hiểu — Biết và Hoàn – Cảnh của người đó thảy đều sai khác với mấy người kia. Nó cứ từng người, từng Bậc, từng gia đình, từng Nhà – nước thống trị mà tuần tự thuyên – diễn, nhưng mỗi mỗi hay lớp lớp thảy đều SẴN – CÓ Bất – Động Pháp.

Cho đến VŨ – TRỤ cùng TAM – THIÊN ĐẠI – THIÊN THẾ – GIỚI không thể nào mà kiểm – điểm hay diễn nói hết đặng. Duy chỉ có SỞ – ĐẮC CHƠN – BIẾT BẤT – ĐỘNG mới chu- đáo mà thôi. Vì trong một pháp nầy Sẵn – có sự Hiểu – Biết nầy. Nơi pháp Bất- Động khác Sẵn- Có cái Hiểu – Biết khác, nó chỉ Đồng – Hợp để mà hiểu biết, bằng chưa Đồng – Hợp thời chưa hiểu nhau. Do đó mà chia ra từng lớp: Vuông – tròn Dài – ngắn

Rộng – hẹp Cao – thấp cùng khắp, nơi đâu cũng thảy đều có một sự Hiểu – Biết chung và riêng.

Đức THẾ -TÔN Ngài Chánh – Biết Nguyên – Thể Bất – Động nó Sẵn- Có nơi từng lớp, mà mỗi chúng – sanh phải đành chịu trong thứ lớp đó. Chúng -Sanh lại đòi hỏi Chân – Thiện Chánh – Giác như Ngài, thành thử Ngài vì chúng – sanh mà chỉ dạy trong các thứ lớp đặng thoát – sanh lần hiểu biết Tỏ – Thông đoạt đến Thực – Tưởng

Bất -Động, chỉ vì chúng – sanh lầm nhận cái Biết của mình mà mê mờ.

DO ĐÓ NGÀI NÓI:

Tất cả chúng – sanh thảy đều có sự hiểu và Biết. Nhưng cái Hiểu nầy là cái Hiểu của Ông chớ chưa phải đã Hiểu đặng cái Hiểu của Bậc khác. Cũng như: Cái Biết nầy là Cái – Biết của Ông, chớ chưa phải Đã – Biết nơi Cái – Biết của Bậc khác.

Những lời nói tối diệu của Ngài để cho Bậc tu hành cầu tiến, từ nơi Hiểu và Biết của mình đến cái Hiểu – Biết Bậc khác, làm cho Trí – Tuệ Tăng – Trưởng lần đến tận cùng CHÁNH – BIẾT BẤT – ĐỘNG.

CHẲNG KHÁC NÀO: Sẵn có từng NẤC – THANG, kẻ quyết chí LEO – THANG không ngừng, đến tột cùng của NẤC – THANG liền RÕ – BIẾT cái thang mấy NẤC. Pháp Bất – Động thứ lớp nó cũng thế.

Nên chi Bậc đã tỏ rõ Chân – Thực, Tận – Biết tỉ mỉ từng giai đoạn TÁNH – PHÁP ra sao, sự CÔNG – DỤNG nó thế nào một cách chu đáo không lầm lẫn nên Điều – Khiển Sắp – Đặt nó. Chẳng khác nào Trưởng – Giả kia Trang – Trí đồ dùng trong nhà của mình.

Bậc ấy khéo Di – Chuyển thứ lớp mà trở thành QUỐC – ĐỘ. Lại vì Chúng -sanh mong Tri – Kiến rốt ráo mà Thần -Diệu lần lượt đưa chúng sanh Tam – Thiên cùng Cảnh – Giới trở thành PHẬT- QUỐC, các chúng sanh trong Cõi chẳng hay biết ngỡ Mình làm đặng.

Pháp Bất – Động là một pháp có LỢI và cũng có HẠI vô kể. Khi Bậc Thật -Biết thì chẳng còn nghi ngờ, liền thoát Trần – Lao hoàn toàn Giải – Thoát chẳng Tập – Khí Sanh – Tử. Bằng chưa biết đến hay lưng chừng biết, hoặc tu hành chưa rốt ráo do Khởi – Mường tượng vội chấp nhận, nó liền nương theo Hương – Vị tập nhiễm ngọt mùi ấy mà trở thành Cảnh – Giới vẹn vừa theo ý, họ liền ngỡ là Chân – Thật mừng rỡ cho Đã – Đắc đến Chân – Lý thọ lãnh Chịu- Báo hay Phước – Báo, tùy theo Công – Năng Sở – Tri Kiến – Chấp mà thành tựu.

Bậc đã trọn biết Pháp Bất- Động, Bậc ấy tỏ rõ từng đường kim mối chỉ của sự tu hành, lại thâm nhập tất cả TẠNG -THỨC từng Sở -Tri sâu cạn của họ như : Tri – Kiến hay chưa Tri – Kiến mà Kiến – Chấp, Giải -Thoát hoặc chưa Giải – Thoát mà Thọ – Chấp. Rõ biết từ hành vi tu tập của Bậc tìm đặng Chơn – Tánh mà Tự – Biết hay tu Khảo – Cứu để Bị – Biết. Còn thấu đáo bậc đang mắc miếu trong pháp để mà Chấp, hay đã thoát sanh đặng pháp Sạch – Sẽ trơn liền nhưng vì Nguyện Độ – Sanh diễn nói in tuồng Thật – Chấp, nhưng không còn lấy một Chấp.

Còn biết qua từng giai đoạn Chứng – Ngộ dừng trụ sạch sẽ, hay lấy TƯỞNG mà dừng trụ? Hoặc KHÔNG – TƯỞNG mà dừng trụ? Cùng với sự thu nhiếp TÂM mà dừng trụ, hoặc lập Thiện – Căn, Thanh – Tịnh Căn, Hòa Giải -Căn, cộng cùng Bất – Động Căn để thành tựu Chứng – Ngộ đến nó?

Đó chính là những điểm khó giải cho nhiều Bậc tu- hành tìm một lối trụ, một pháp hay một Tôn – Chỉnh đúng đắn để thâm nhập Viên – Giác rốt – ráo, Thân tâm BẤT – ĐỘNG vậy.

Do lẽ ấy nên các Bậc Tu – Chứng qua từng pháp, từng lớp mơ màng, Trí – Tuệ rời rạc chưa Thật – Biết mà nhận lãnh trọn – vẹn, chỉ nương vào VÔ -NGÃ nhận thấy Tư –

Duy – Pháp để làm rỗng – rang Tâm Ý mình. Lâu ngày tập khởi Nghi Mình, Nghi Chân – Lý, Nghi Pháp – Môn, nhưng tìm một lối trên để dừng trụ thật là nguy hại. Lại có Bậc xem kinh ghi nhớ học thuộc tu tập Bị – Biết Kinh, nhưng vẫn có sự rỗng – rang trên chẳng hạn. Nếu gặp ai hỏi đến đoạn Kinh thời giảng – giải y theo bài vở đã học, còn chận hỏi pháp Chân – Lý bất ngờ liền lý – bí. Vì sao? Vì Bị – Biết chớ nào có Tự – Biết đâu, do Bị – Biết đó mà chẳng Tỏ – Tánh thành thử bị nằm trong LỜI – NÓI của PHẬT.

CŨNG NHƯ: Nằm nơi ngón tay PHẬT chỉ Chân – Lý chớ chẳng tìm Chân – Lý để mà TỎ. Con đường lập pháp Tỏ – Biết thật là trăm phương vạn lối Có kẻ tự nâng cao mình là: THÁNH. Có Bậc tự hạ thấp mình là: PHÀM. Kẻ mong chứng nầy, người đòi chứng nọ, tự sinh chứng che đậy buông xuôi biện- luận thuyết – giải trôi chảy để mà Thọ – Chấp, trong một thời gian nơi chấp ấy in tuồng là Thực, lãnh lấy những pháp Tự – Tạo tự lãnh mà không hay biết vậy.

Những lẽ trên có nhiều điểm chưa thấu đáo vì Tâm- Chí nông cạn, Hữu – Lậu Vọng – Đảo chưa sạch, Hạnh – Nguyện chưa tròn, nên sự Khởi tham – lam vội chấp lầm – lẫn che đậy.

CHẲNG KHÁC NÀO: Con Lương kia vốn Sẵn – Có chất nhớt của nó để bảo vệ THÂN và sanh sống. Còn Mê – Lầm Phàm – Phu Sẵn – Có PHÁP – GIỚI che đậy những gì lầm sai. Bậc tu vẫn còn Bản – Ngã ấy nhận chịu che đậy thuyết – giải mê – lầm bao phủ như thật, gọi là: VÔ – MINH.

Đối với Bậc Sở – Đắc CHÂN – NHƯ BẤT – ĐỘNG thời Thật- Biết các Tập -Khởi của mỗi lớp thế nào, bị nhiễm ra sao? Mong muốn chấp nhận thế nào? Chịu – Báo hay Chánh – Báo ra sao? Bậc ấy biết tất cả, còn biết hơn thế nữa, nhưng không chấp Sở – Tri mà Hoàn -toàn Giải – Thoát chẳng còn Tập – Khí Sanh – Tử, chỉ nương vào Công- Đức Như – Lai để diễm nói, chỉ bày từ ly tí. Khi biên soạn hay đọc tụng phương -tiện Kinh Sách miễn làm cho sáng tỏ các bậc tu – hành đến đích Tri – Kiến Giải – Thoát là đủ.

Dù cho Bậc ấy Thị – Hiện các HẠNH THUẬN – NGỊCH, TỊNH hay BẤT -TỊNH chăng nữa cũng không có lỗi mà đặng Phước – Báo vô kể khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì Bổn- Nguyện chung để Độ – Sash mà phải như thế.

CÒN NGƯỢC LẠI: Cũng vốn Pháp Bất- Động ấy. Nhưng Mê – Lầm thời nó trở thành PHÁP – GIỚI đóng khuôn ngăn – biệt mỗi CHÚNG – SANH nên gọi là: CHÚNG – SANH – GIỚI.

Nơi Pháp – Giới vẫn từng Bậc từng lớp lang, từ nhỏ bé lên đến to lớn trùm khắp TAM – THIÊN ĐẠI – THIÊN THẾ – GIỚI. Mỗi một kẻ hay một Bậc cùng một người thảy đều nằm nơi Pháp – Giới, nó đóng nên khuôn HIỂU và BIẾT riêng nhau từng Pháp, nên LẼ – PHẢI với VIỆC – QUẤY tự tạo Hoàn – Cảnh THUẬN – NGHỊCH riêng nhau.

Từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn thảy đều có sự Biệt – Lập Tự – Ngã thành thử khó mà Hiểu cùng Biết với nhau cho tận từ. Bất quá có Hiểu Biết nhau chăng cũng trong một trường hợp chốc lát hoặc trong một hoàn – cảnh mà thôi.

Ngoài ra vẫn xung đột cạnh tranh tự cho mình: ĐÚNG hay PHẢI, nên mới có: THƯƠNG-GHÉT, ĐÚNG-SAI, do hợp và không hợp trở thành câu chuyện SAI – ĐÚNG trong Pháp – Giới nó sẵn sàng

Bản – Năng phủ kín che đậy thành Bản – Ngã kiên – cố chỉ vì chấp nhận mà nó trong Pháp.

Pháp – Giới là một pháp quá ư Tinh – Nhuệ, nó có thể gạt gẫm từ phàm phu thấp kém đến Bậc ĐẠI – THIÊN – TIÊN, qua hàng TĂNG THÁNH. Nó đưa từng lớp, từng Bậc, từ sơ khởi tu – hành đến bậc tu hiểu biết Phật- Pháp, lại lừa bậc đã từng đi trong HẠNH – NGUYỆN ĐỘ – SANH cùng với bậc GIÁO – PHÁP nếu Tập – Khởi chấp – nhận vẫn mắc Pháp – Giới thêm phí công bê trễ, Nó có đủ phương lừa, đủ cách gạt. Nó tùy – thuận SỰ – MUỐN Tuyệt – Mỹ, khôn – khéo đưa từng lớp bị lầm vì nó.

Nếu kẻ tu chẳng khéo suy – ngẫm để điều – ngự sự Tham – Muốn, không củng – cố kiên nhẫn đặng lần nương theo Pháp để Tỏ – Pháp mà thâm nhập PHÁP – GIỚI thì dễ bị lầm nhận mà lộn vòng Sanh – Tử.

Tuy nhiên còn có bậc tu chánh – đáng, quyết tâm cầu Diệu – Quả. Họ chẳng vì Danh – Lợi để mà tu, chỉ vì thoát Trần – Lao Hư – Vị nên mới tìm hiểu đặng nó. Mới nhìn nhận Tánh Điêu – Luyện tầm quan trọng và sự nguy – hiểm của nó, làm cho kẻ tu- hành sơ – sài phải Chấp – Pháp. Vì lẽ đó nên Bậc ấy mới mềm dẽo thịnh- trọng Tinh – Tấn Đạo – Tràng trên hết để tu. Chủ Quán THẾ – GIAN như Huyển nên chẳng bao giờ tranh giành Hơn – Thua, Được – Mất mà mắc – miếu theo Pháp – Giới. Do đó, không có sự Tập Nhiễm Thanh- Thô để Thọ – Chấp. Họ nương vào VÔ – NGÃ cầu lấy Xuất – Ly từng Pháp để Tỏ Biết chơn thật rõ- ràng.

CŨNG NHƯ: Hiện THẾ- GIAN – GIỚI chẳng tập – nhiễm để Tỏ – Ngộ THẾ – GIAN mà GIÁC. Qua: TAM -THIÊN ĐẠI – THIÊN

THẾ – GIỚI cùng CẢNH – GIỚI TỊNH – ĐỘ, chẳng chấp nhiễm một GIỚI mà thọ – lãnh. Vì sao? Vì Bậc ấy ĐÃ – BIẾT: CẢNH – GIỚI

THẾ – GIỚI đều là PHÁP – GIỚI.

CHẲNG KHÁC NÀO: Bậc học trò kia vào trường Y – KHOA để học, Bậc ấy có một sự quyết chí trở thành một ĐẠI – LƯƠNG – Y, DƯỢC – PHẦM, nên siêng – năng khảo – cứu các món thuốc tận từ hiểu biết từng món, có TÁNH – DƯỢC khác nhau chuyên trị một bệnh. Sau khi tỏ biết tất- cả các món thuốc rành – mạch, họ có thể hợp thang. Năm bảy vị trở nên một MÔN – THUỐC cứu chữa con bệnh, mà chính bậc ĐẠI –

LƯƠNG – Y, DƯỢC – PHẨM không mắc phải một Bệnh hay một món thuốc vậy. Bậc tu – hành dùng Phương -Tiện xuất – ly Pháp để Tỏ Pháp – Giới lại khéo HÀNH – THÂM BÁT – NHÃ mà thâm nhập BẤT – ĐỘNG.

Có nhiều bậc tu – hành vì Tín – Ngưỡng ưa muốn, nhưng chưa hiểu đặng phương – thức tu, thì có đâu hiểu thấu PHÁP và PHÁP – GIỚI, thành thử họ tu có nhiều
Sở – Cầu khác nhau. Tuy thế chung lại chỉ lấy THIỆN – CĂN đặng cầu PHƯỚC – BÁO, nên không có hại chi cả.

Vì sao? Vì các Bậc ấy trót lầm nơi Pháp – Giới THÔ – KHỔ, đến nay tu – hành mong cho thoát – sanh khỏi khổ, đặng đến Pháp – Giới Thanh – Nhàn hơn, nên chẳng có hại.

Duy chỉ có Bậc tu Phật đã hiểu biết đôi chút Phật – Pháp mà quyết tâm tu thật dày công, nhưng có một cái: Nặng về Bản – Ngã Chấp – Thủ, gọi là tu theo Sở thích của mình. Do đó nên nặng về SẮC – TƯỚNG sở – cầu hơn là tìm sự Hiểu – Biết phá mê – lầm. Vì thế khó khăn hiểu Pháp hay Pháp – Giới để mà tu.

Có Bậc khá công hơn, họ đem sự Hiểu – Biết và sự làm để tu rất
tinh – tấn cầu tiến bộ, nên nhàm chán: SANH – TỬ – BỆNH -
LÃO – KHỔ mà quyết tâm tu. Đến khi rõ biết: Bởi Tập – nhiễm chìm đắm vào THAM – SÂN – SI, do sự ĐƯỢC – MẤT TRANH – GIÀNH mới có PHIỀN – NÃO lộn vòng nơi NHÂN – QUẢ.

Những sự hiểu biết đó nó lại có một trạng thái quyết TẬN – DIỆT các Nghiệp tập – nhiễm để kìm – hãm TÂM, mà mong chờ ĐẠO – QUẢ. Kể ra những bậc như vậy thật là đáng kính nể, nhưng tiếc rằng sự gặt hái chẳng đặng rốt – ráo. Dù có thành tựu đến mức TẬN – DIỆT – ĐỊNH cũng vào PHÁP – GIỚI Thánh – Quả, chớ chưa hẳn Diệu – Quả NIẾT – BÀN.

Con đường tu Phật nó có nhiều then chốt lạ lùng do bởi: PHÁP – GIỚI. Dù cho có nhiều Bậc niệm niệm một câu để Tỏ – Biết cũng chẳng biết tí nào. Vì sao? Vì nằm trong Pháp – Giới Bị – Biết, chớ chẳng Viên – Dung Tự – Biết. Nó như thế nên Bậc tu – hành khá họ vẫn biết rằng: SỰ – TU là một Phương – Tiện Cứu – Cánh Giải – Thoát. Nhưng đến lúc say tu: thời nhiều Bậc BẢO – THỦ Món – Tu mà giành giựt cho mình là CHÃN – CHÁNH, kẻ khác là NGOẠI – ĐẠO TÀ – GIÁO để hơn thua nhau. Đôi bậc tự hào là: BỒ – TÁT hoặc tự dựng là PHẬT mà khinh khi Bậc khác là CHÚNG – SANH. Đó chính là điểm trọn lừa của PHÁP – GIỚI, để cho Bậc tu chấp – nhận mà Thọ – Lãnh.

Nếu Bậc tu hành y như Pháp – Môn nào cũng tốt, miễn là chớ vội
chấp – thủ Cố – Định, nương vào VÔ – NGÃ làm phương – tiện

Xuất – Ly qua từng Pháp không nhiễm trước, để Tỏ – Biết tất cả Pháp như HUYỂN – HÓA HƯ – DỐI KHÔNG THỰC mà rạng tỏ VÔ – MINH PHÁP – GIỚI. Đó chính là bậc khéo.

Bằng Bậc tu – hành không CHẤP – THỦ, liền đặng TRÍ – TUỆ hiểu biết rộng – rãi, nhờ chẳng nặng
TỰ – NGÃ, chịu khó học hỏi lối tu của các bậc nên tiến – bộ.

Bậc ấy lại rõ biết Tự -Tánh mê – lầm Bản – Năng thường Chấp nên Vọng – Đảo mà nương theo lời PHẬT dạy: PHẬT và CHÚNG – SANH KHÔNG SAI KHÁC, NHƯNG SAI KHÁC MÊ VÀ NGỘ. Do lời nói ấy nên đặng sự Hiểu – Biết lìa đặng SẮC – TƯỚNG, lập Chơn – Tánh PHÁ – CHẤP để tu, gọi là ĐỐN – GIÁO CẤP – TIẾN.

Khi đã đặng: ĐỐN – GIÁO CẤP – TIẾN để tu thì thật là qúy. Nhưng phải làm cho tròn HẠNH – NGUYỆN ĐỘ – SANH. Vì trong Hạnh – Nguyện đó nó giúp cho Bậc tu được sự đứng đắn Chân – Thật, rốt – ráo, thông – đạt các pháp không thiếu sót. Nó lại làm cho Bậc tu THẬT / BIẾT nơi HÀNH – DỤNG: CẤP – TIẾN và CẤP – THỦ làm đúng lúc, Phá – Chấp đúng hồi không sai chạy hay mơ – màng mà Tỏ -rõ, gọi là CHÁNH – GIÁC chẳng còn Tập – Khí Sanh – Tử vậy.

BẰNG PHÁ – CHẤP QUÁ ĐÀ: MỘT: Phải vào chỗ KHÔNG mà Chấp – Thủ. Nếu chẳng Chấp chăng cũng tìm nơi An – Trụ lấy MỘT PHÁP thì lãnh đủ 8 vạn 4000 pháp? Hai : Phải vịn vào pháp BÌNH – ĐẲNG, để thuyết – giải hay Biện – Luận suông làm VAI CHÁNH.

CHẲNG KHÁC NÀO: CON – LƯƠNG có sẵn tánh TRƠN – VUỘT gọi đó là pháp phân hai như: Nó Cũng Có. Nó Cũng Không. Muốn Có liền Có. Muốn Không liền Không. Nó Cũng Thế. Nó Cũng Vậy. Nó Không Hai Hay Sai Khác. Hay Nó Không Có Chổ Chỉ. Chưa phải lời Quyết – Định DUY – NHẤT.

Có Bậc cũng đã biết lề – lối phân hai trên là một Sở -Thuyết nên dè – dặt hơn, suy – ngẫm thấu đặng PHÁP – GIỚI: THUẬN- NGHỊCH đều là MỘT. Muốn dung – hòa nhưng chẳng biết làm thế nào?

– Nếu lập THIÊN – THỪA sợ khép vào hoàn – cảnh quy luật hay trong vòng Chấp – Thủ?

– Còn lập THIỆN – CĂN thì rõ – biết Thiện – Ác không HAI? Nên hay dùng lối TỰ – TÁNH nơi mình đương nhiên TỰ – TẠI, xuôi chiều mát- mái đến đâu hay đó.

Trong một thời gian, chưa có một căn – bản Rốt – Ráo tỉ mỉ nên: Buông – Lung vì Tự – Tại. Bất – Thiện bởi chưa Trọn Hạnh. Vị – Kỷ vì Chưa Tỏ. Mạt – Thị Khinh – Khi từng lớp vì chưa Chu – Đáo

CHƠN – NHƯ, nên những lối hành – động cử chỉ tự chấp- nhận là Hạnh – NGUYỆN ĐỘ – SANH . Khi gặp THUẬN, lúc gặp NGHỊCH – PHÁP thảy đều ráng chịu. Tập – Khí Sanh – Tử vẫn mang, làm sao chối cãi?

CHỚ NÀO NGỜ: PHÁP – GIỚI tuy là MỘT. Nhưng THỂ – DỤNG của nó là HAI trở thành 8 vạn 4000 pháp Bình – Đẳng BẤT – ĐỘNG. Nơi Pháp – Giới tương – đối nó có hai lối sử – dụng, gọi là: THUẬN – HÀNH và NGHỊCH – HÀNH. Bậc khéo biết thì dùng đúng lúc, đúng chỗ, còn Bậc chẳng Tỏ – Biết lại dùng không đúng chỗ mà bị chống đối Tập – Nhiễm chưa thỏa – mãn vẫn chịu Tập – Khí Sanh – Tử vì chưa trọn CHÂN – LÝ.

Nơi THUẬN – HÀNH NGHỊCH – HÀNH là một vấn – đề trọng – yếu giải – quyết đến sự Viên – Mãn hay chưa Viên – Mãn. Vì sao? Vì Phá – Chấp lầm – mê đặng TRI – KIẾN – PHẬT. Nhưng Tỏ – Rõ việc sử – dụng THUẬN – NGHỊCH vẹn vừa đứng đắn thì đặng: PHẬT TRI – KIẾN. Bằng vì Phá – Chấp quá lối, chẳng Tinh – Tấn Đạo – Tràng thì muôn kiếp vẫn còn Tập – Khí Sanh – Tử, gọi là HÀNH – NGUYỆN. Đó là một lối giảng – giải mật thiết cho Bậc GIẢI – THOÁT, nên nhớ lấy.

Còn nói về THUẬN – HÀNH pháp, là một đặc – tánh thu nhiếp làm cho tất- cả đều ưa – thích mà tu – hành, nó cũng là một lối dỗ dành nâng đỡ Bậc non kém. Khen tặng và giúp – đỡ con đường tu, làm cho tất – cả được Say Đạo để Hiểu Đạo cùng Tỏ – Biết và VIÊN – THÔNG CHÂN – LÝ.

Bên NGHỊCH – HÀNH duy chỉ là Pháp TRỢ – DUYÊN cùng PHẨM TRỢ – ĐẠO cho Bậc đã TIN – PHẬT, TIN PHÁP – MÔN tu, để lần đưa từng Pháp vì Bậc ấy đã chịu nỗi sự thử – thách mà tiến – bộ. Ngoài ra chẳng dùng. Vì dùng đến nó làm cho tất – cả mọi người đều chẳng ưa- thích mà xa lánh, hoặc Đoạn – Duyên với mình.

Hai lối sử – dụng của một PHÁP- GIỚI. Nằm nơi Pháp, Tỏ Pháp, Thông – Pháp, Bất – Động với Pháp. Viên – Tịch cùng Pháp. Trọn dùng đến Pháp, Không Tập – Nhiễm một Pháp. Vì sao? VÌ QUÁ BIẾT nên chẳng dùng CÁI – BIẾT. Chớ nên lìa nó. Chớ nên Bỏ và Diệt nó. Chớ nên Sợ – Chấp, cứ Phương – Tiện trọn HẠNH – NGUYỆN, thì PHÁP – GIỚI trở nên CHÂN – NHƯ BẤT – ĐỘNG.

Tất cả Chư Vị BỒ – TÁT vẫn nương theo con đường ấy để mà cầu VÔ – THƯỢNG CHÁNH – GIÁC. Nên mới TÁN – THÁN PHÁP – GIỚI mà gọi là: HÀNH – DỤNG NHƯ – LAI.

NAM MÔ : HỒI – HƯỚNG PHÁP-ĐẢNH NHƯ-LAI- TẠNG

15-10-MẬU THÂN (1968)

BÀI ĐÃ ĐỐI CHIẾU ĐÚNG VỚI BẢN GỐC